41. Sớ Cúng Sao I

(Đãng Đãng Châu Thiên)

 

Nguyên văn:

 

伏以

蕩蕩週天、列乾坤之星宿、巍巍北斗、統大地之山河、一念至誠、十方感格。疏爲越南拜國...省、...縣(郡)、...社、...村、家居奉

佛聖上香獻供禳星解限祈安保命延齡事。今信主...等、卽日拜干

中天星斗俯垂炤鑒。言念、臣等叨生下品、命屬上天、荷乾坤覆載之恩、感星宿炤臨之德。年逢限厄、歲値凶星、恐其運限臨身、慮有災星炤命。菲憑薄禮、乞保平安。茲者本月吉日、列陳香花燈茶品供。今則謹具疏文、和南拜奏。

皇天至尊金闕玉皇上帝玉陛下。中天星主北極紫微大帝玉陛下。大聖南曹北斗二位星君。上青天曹十二宮本命元震眞君。九曜七宿列位星君。三位三災星君。四方二十八宿星君。八卦九宮神官。五方限厄神官。生老病死大小運限神官。各相主炤共降吉祥。伏願、吉星炤耀、凶運潛消、解除已徃之愆尤、增長將來之福祉、財源旺進、限厄消除。仰賴

尊星扶持之嘉惠也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏   

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Đãng đãng châu thiên, liệt càn khôn chi tinh tú;1 nguy nguy Bắc Đẩu,2 thống đại địa chi sơn hà; nhất niệm chí thành, thập phương cảm cách.

Sớ vị: Việt Nam quốc, ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng nhương tinh, giải hạn kỳ an bảo mạng diên linh sự. Kim tín chủ ... đẳng, tức nhật bái can Trung Thiên Tinh Đẩu phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Thần đẳng phao sanh hạ phẩm, mạng thuộc thượng thiên; hà càn khôn phú tải chi ân, cảm tinh tú chiếu lâm chi đức; niên phùng hạn ách, tuế trị hung tinh; khủng kỳ vận hạn lâm thân, lự hữu tai tinh chiếu mạng; phỉ bằng bạc lễ, khất bảo bình an. Tư giả bổn nguyệt cát nhật, liệt trần hương hoa đăng trà phẩm cúng, kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái tấu:

Hoàng Thiên Chí Tôn Kim Khuyết Ngọc Hoàng Thượng Đế Ngọc Bệ Hạ.

Trung Thiên Tinh Chủ Bắc Cực Tử Vi Đại Đế Ngọc Bệ Hạ.

Đại Thánh Nam Tào3 Bắc Đẩu Nhị Vị Tinh Quân.

Thượng Thanh Thiên Tào Thập Nhị Cung4 Bổn Mạng Nguyên Thần Chơn Quân.

Cửu Diệu5 Thất Tú Liệt Vị Tinh Quân.

Tam Vị Tam Tai6 Tinh Quân.

Tứ Phương Nhị Thập Bát Tú7 Tinh Quân.

Bát Quái Cửu Cung Thần Quan.

Ngũ Phương Hạn Ách Thần Quan.

Sanh Lão Bệnh Tử Đại Tiểu Vận Hạn Thần Quan, các tương chủ chiếu, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Cát tinh chiếu diệu, hung vận tiệm tiêu; giải trừ dĩ vãng chi khiên vưu, tăng trưởng tương lai chi phước chỉ; tài nguyên vượng tấn, hạn ách tiêu trừ. Ngưỡng lại tôn linh phò trì chi gia huệ dã, cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Vời vợi khắp trời, thâu các sao trong trời đất; lồng lộng Bắc Đẩu, thống lãnh núi sông đại địa. Một niệm chí thành, mười phương cảm ứng.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương hiến cúng, dâng sao giải hạn, cầu an bảo mạng thêm tuổi. Hôm nay tín chủ … thành tâm vái lạy, tinh đẩu giữa trời, xót thương chiếu giám.

Thiết nghĩ: Chúng con được sanh cõi dưới, mạng thuộc trên trời; mang ơn che chở của càn khôn, cảm đức chiếu soi của tinh tú; năm gặp hạn ách, tuổi thuộc sao xấu; sợ vận hạn xảy đến thân mình, lo sao tai ách chiếu mạng. Con nương lễ bạc nầy, cầu xin được bình an. Nay gặp ngày lành tháng tốt, bày đủ hương hoa, đèn, trà, phẩm vật cúng, con xin dâng trọn sớ văn, thành tâm thưa thỉnh:

Hoàng Thiên Chí Tôn Kim Khuyết Ngọc Hoàng Thượng Đế Ngọc Bệ Hạ.

Trung Thiên Tinh Chủ Bắc Cực Tử Vi Đại Đế Ngọc Bệ Hạ.

Đại Thánh Nam Tào, Bắc Đẩu Hai Vị Tinh Quân.

Thượng Thanh Thiên Tào Thập Nhị Cung Bổn Mạng Nguyên Thần Chơn Quân.

Cửu Diệu Thất Tú Liệt Vị Tinh Quân.

Tam Vị Tam Tai Tinh Quân.

Tứ Phương Nhị Thập Bát Tú Tinh Quân.

Bát Quái Cửu Cung Thần Quan.

Ngũ Phương Hạn Ách Thần Quan.

Sanh Lão Bệnh Tử Đại Tiểu Vận Hạn Thần Quan, cùng chiếu giám và ban cho cát tường.

Cúi mong: Sao tốt chiếu soi, hung vận dần tiêu, giải trừ tội lỗi xưa kia, tăng trưởng phước lộc mai sau; tài nguyên thêm nhiều, hạn ách trừ sạch. Ngưỡng mong chư vị tôn linh giúp đỡ, gia hộ cho. Kính xin dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Tinh tú (星宿): còn gọi là tú diệu (宿曜), tinh tú chia thành 7 diệu (, Thất Diệu), 12 cung (十二宮, Thập Nhị Cung), 28 ngôi sao (二十八宿, Nhị Thập Bát Tú), v.v. Các tinh tú nầy là chỗ ở của các thần hay tự thân các thần, có thể phản ảnh hết thảy hiện tượng của cõi người và cõi trời, từ đó hiện ra các tướng tốt xấu, hay nương theo sự vận hành của các vì sao mà có thể dự đoán vận mạng của cõi người. Trong Phật Giáo có Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (未來星宿劫千佛名經, Taishō No. 448b) liệt kê danh hiệu của chư Phật nhiều như các vì sao: “Thử vị lai tinh tú kiếp trung, đương hữu thiên Phật xuất thế, danh tự như thị; nhược nhân văn danh, nhất tâm lễ sự, bất sanh giải đãi, tất đắc Niết Bàn (此未來星宿劫中當有千佛出世名字如是若人聞名一心禮事不生懈怠必得涅槃, trong kiếp tương lai nhiều như các vì sao, sẽ có ngàn đức Phật ra đời, tên gọi như vậy; nếu người nào nghe tên, một lòng kính lễ, chẳng sanh lười biếng, tất chứng Niết Bàn).”
  2. Bắc Đẩu (北斗): nói đủ là Bắc Đẩu Thất Tinh (北斗七星), còn gọi là Thiên Cương (天罡), tức 7 ngôi sao có hình cái muỗng tụ lại ở phương Bắc, cách xa Bắc Cực khoảng 30 độ, gồm: (1) Thiên Xu (天樞, Dubhe), (2) Thiên Tuyền (天璇, Merak), (3) Thiên Ki (天璣, Phecda), (4) Thiên Quyền (天權, Megrez), (5) Ngọc Hành (玉衡, Alioth), (6) Khai Dương ([], Mizar) và (7) Dao Quang (瑤光, Alkaid). Trong Thiên Văn, chùm sao nầy được gọi là Đại Hùng Tinh (大熊), tên tục là Tham Lang Tinh (貪狼), Cự Môn Tinh (巨門), Lộc Tồn Tinh (祿存), Văn Khúc Tinh (文曲), Liêm Trinh Tinh (廉貞), Võ Khúc Tinh (武曲), và Phá Quân Tinh (破軍), v.v. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 24, Nhật Nguyệt Tinh Tú Bộ (日月星辰部), Phần Bắc Đẩu Cửu Tinh Chức Vị Tổng Chủ (北斗九星職位總主) có giải thích về Bắc Đẩu Thất Tinh rằng: “Hoàng Lão Kinh viết: ‘Bắc Đẩu đệ nhất Thiên Xu Tinh, tắc Dương Minh Tinh chi hồn thần dã; đệ nhị Thiên Tuyền Tinh, tắc Âm Tinh Tinh chi hồn thần dã; đệ tam Thiên Cơ Tinh, tắc Chân Nhân Tinh chi phách tinh dã; đệ tứ Thiên Quyền Tinh, tắc Huyền Minh Tinh chi phách tinh dã; đệ ngũ Ngọc Hành Tinh, tắc Đan Nguyên Tinh chi phách linh dã; đệ lục Khai Dương Tinh, tắc Bắc Cực Tinh chi phách linh dã; đệ thất Dao Quang Tinh, tắc Thiên Quan Tinh chi hồn đại minh dã’ (黃老經曰北斗第一天則陽明星之魂神也第二天則陰精星之魂神第三天機星人星之魄精也第四天權星則玄星之魄精也第五玉衡星則丹元星之靈也第六闓陽星則北極星之靈也第七搖光星則天關星之魂大明也, Hoàng Lão Kinh dạy rằng: ‘Bắc Đẩu Sao Thiên Xu thứ nhất là thần hồn của Sao Dương Minh; Sao Thiên Tuyền thứ hai là thần hồn của Sao Âm Tinh; Sao Thiên Cơ thứ ba là hồn phách của Sao Chân Nhân; Sao Thiên Quyền thứ tư là hồn phách của Sao Huyền Minh; Sao Ngọc Hành thứ năm là phách linh của Sao Đan Nguyên; Sao Khai Dương thứ sáu là phách linh của Sao Bắc Cực; Sao Dao Quang thứ bảy là hồn sáng suốt của Sao Thiên Quan’).” Theo quan niệm cổ đại, Thiên Xu được xem như là Chánh Tinh, chủ về dương đức; Thiên Tuyền là Pháp Tinh, chủ về âm hình; Thiên Ky là Lịnh Tinh, chủ về phạt hại; Thiên Quyền là Phạt Tinh, chủ về thiên lý; Thiên Hành là Sát Tinh, chủ cả trung ương và bốn phương; Khải Dương là Nguy Tinh, chủ thiên thực ngũ cốc; và Dao Quang là Bộ Tinh, chủ về binh lính. Trong Cam Thạch Tinh Kinh (甘石星經) có câu: “Bắc Đẩu tinh vị chi Thất Chính, thiên chi chư hầu (北斗星謂之七政天之諸侯, sao Bắc Đẩu được gọi là Thất Chính, là chư hầu của Trời).” Tôn Tinh Vương Pháp (星法), Bắc Đẩu Pháp (北斗), Bắc Đẩu Thất Tinh Hộ Ma Pháp (北斗七星護摩法), v.v., của Mật Giáo đều là những pháp cầu đảo chùm sao nầy. Như trong Bắc Đẩu Thất Tinh Hộ Ma Bí Yếu Nghi Quỹ (北斗七星護摩祕要儀軌, Taishō No. 1306) có giải thích rõ rằng: “Thị cố Như Lai vi mạt thế bạc phước đoản mạng yểu tử chúng sanh cố, thuyết thị Nhất Tự Đảnh Luân Bắc Đẩu Thất Tinh Cúng Dường Hộ Ma chi nghi tắc, vi cúng dường giả, linh kỳ thuộc mạng tinh số tước tử tịch hoàn phó sanh tịch (是故如來末世薄福短命夭死眾生故是一字頂輪王召北斗七星供養護摩之儀則爲供養者令其屬命星數削死籍還付生籍, cho nên đức Như Lai vì chúng sanh chết yểu, mạng ngắn, bạc phước ở trong đời tương lai mà nói nghi tắc Nhất Tự Đảnh Luân Bắc Đẩu Thất Tinh Cúng Dường Hộ Ma nầy; người nào cúng dường sẽ khiến cho sao chiếu mạng của mình đoạt đi hồ sơ chết và hoàn trả hồ sơ sống)” Ngoài ra, trong Thiền môn có câu “Bắc Đẩu lí tàng thân (北斗裏藏身, ẩn thân trong sao Bắc Đẩu)” muốn ám chỉ thần thông diệu dụng của Thiền sư, giống như ẩn thân trong sao Bắc Đẩu. Trong Vân Môn Khuôn Chơn Thiền Sư Quảng Lục (雲門匡眞禪師廣錄) có đoạn rằng: “Vấn: ‘Như hà thị thấu pháp thân cú ?’ Sư vân: ‘Bắc Đẩu lí tàng thân’ (問、如何是透法身句、師云、北斗裏藏身, Hỏi rằng: ‘Thế nào là câu thấu triệt pháp thân ?’ Sư đáp: ‘Ẩn thân trong sao Bắc Đẩu’).” Nói chung, chùm sao nầy trên thì quản lý sổ sách nhà trời, giữa thì thống lãnh các quỷ thần và dưới thì chủ quản hồ sơ thọ mạng của con người.
  3. Nam Tào (南曹): tức Nam Đẩu Tinh Quân (南斗星君), là vị thiên thần rất quan trọng trong Đạo Giáo, chưởng quản chùm sao Nam Đẩu, ở phương Nam. Có thuyết cho rằng chùm sao nầy trông coi về thọ mạng ngắn dài của nhân loại, cho nên có câu: “Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử (南斗北斗主死, Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết).” Trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 3 của Can Bảo (干寶, ?-336) nhà Đông Tấn có ghi lại câu chuyện Nam Đẩu Tinh Quân và Bắc Đẩu Tinh Quân ban tặng thêm tuổi thọ cho người phàm. Quản Lộ (管輅) tự Công Minh (公明), vốn người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc (220-264) diện mạo xấu xí, thích uống rượu. Từ bé, Lộ ham xem thiên văn, thường đêm nằm nhìn trăng sao, thao thức không chớp mắt, cha mẹ ngăn cấm không được. Vừa lớn lên, Quản Lộ đã làu thông Kinh Dịch, hiểu hết nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số và giỏi cả xem tướng. Nhân khi Quản Lộ đến Bình Nguyên, thấy khuôn mặt của Nhan Siêu (顏超) hiện rõ nét sẽ chết yểu; nhân đó cha họ Nhan bèn van xin Lộ làm cho kéo dài thêm mạng sống. Lộ bảo rằng: “Khi con ông về, hãy tìm loại rượu trắng, một cân thịt nai luộc chín, trứng, đem đến dưới cây dâu lớn phía Nam, nơi ấy có hai người đang ở đó, cứ rót rượu rồi đặt thịt luộc xuống; họ uống hết thì rót thêm. Nếu họ hỏi ông thì ông cứ vái lạy, đừng nói lời nào cả, ắt hai người đó sẽ cứu người.” Họ Nhan làm đúng theo lời dặn, quả nhiên thấy có hai người đang ngồi đánh cờ, bèn lẳng lặng đặt rượu thịt xuống trước mặt họ. Hai người say mê chơi, chỉ biết uống rượu ăn thịt, chẳng thèm nhìn xem thử ai ngồi một bên mình, rồi dần dần vừa đánh vừa ăn uống hết cả rượu thịt một cách ngon lành. Lúc bấy giờ, Nhan mới khóc òa lên và lạy lục xin cầu thọ. Hai ông giựt nẩy mình nhìn lại. Đột nhiên, người ngồi phía Bắc ngước lên nhìn thấy họ Nhan, bèn hỏi: “Làm gì đến đây ?” Họ Nhan chỉ cúi đầu vái lạy. Người ngồi ở phía Nam chợt nói: “Đã uống rượu, ăn thịt người ta rồi, sao lại không có chuyện được chứ ?” Người phía Bắc bảo: “Hồ sơ đã định rồi.” Người phía Nam nói: “Cứ mượn hồ sơ xem sao.” Xem qua mới biết Nhan Siêu chỉ sống đến 19 tuổi, họ bèn lấy bút phê rằng: “Cứu nhữ chí cửu thập niên hoạt (救汝至九十年活, cứu ngươi sống đến chín mươi tuổi).” Họ Nhan vái lạy tạ ơn trở về. Quản Lộ bảo họ Nhan rằng: “Bắc biên tọa nhân thị Bắc Đẩu, Nam biên tọa nhân thị Nam Đẩu; Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử; phàm nhân thọ thai, giai tùng Nam Đẩu quá Bắc Đẩu (北邊坐人是北斗南邊坐人是南斗南斗注生北斗主死凡人受胎皆從南斗過北斗, người ngồi ở phía Bắc là Bắc Đẩu, người ngồi ở phía Nam là Nam Đẩu; Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết; người phàm thọ thai, đều từ Nam Đẩu qua Bắc Đẩu).” Trong Nam Đẩu Lục Ty Diên Mạng Độ Nhân Diệu Kinh (南斗六司延壽度人妙經) của Đạo Giáo có nêu tên 6 vị tinh quân của chùm sao Nam Đẩu nầy là: Nam Đẩu Đệ Nhất Thiên Phủ Ty Mạng Thượng Tướng Trấn Quốc Chơn Quân (南斗第一天府司命上相), Nam Đẩu Đệ Nhị Thiên Tướng Ty Lục Thượng Tướng Trấn Nhạc Chơn Quân (南斗第二天相司錄上相), Nam Đẩu Đệ Tam Thiên Lương Diên Mạng Bảo Mạng Chơn Quân (南斗第三天梁延壽保命), Nam Đẩu Đệ Tứ Thiên Đồng Ích Toán Bảo Sanh Chơn Quân (南斗第四天同益算保生), Nam Đẩu Đệ Ngũ Thiên Xu Độ Ách Văn Xương Luyện Hồn Chơn Quân (南斗第五天樞度厄文昌鍊魂), Nam Đẩu Đệ Lục Thiên Cơ Thượng Sanh Giám Bộ Đại Lý Chơn Quân (南斗第六天機上生監簿大理). Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển của Cao Đài Giáo Việt Nam có câu: “Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu, muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào.” Hay trong Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần của đạo nầy cũng có câu: “Rủi thiên số Nam Tào đã định, giải căn sinh xa lánh trần ai.
  4. Thập Nhị Cung (十二宮): 12 cung, còn gọi là Hậu Thiên Thập Nhị Cung (後天十二宮), là khu vực các ngôi sao Hoàng Đạo trong không trung tương đối, được quy định bởi nơi xuất hiện và thời gian xuất hiện của chúng. Theo quan niệm Thiên Văn Học của Phật Giáo, 12 cung nầy có tên như sau (theo thứ tự tiếng Phạn, âm dịch, ý dịch và tiếng Anh): (1) Mea (Mê Sa [], Dương Cung [, cung con dê], Aries); (2) Vṛṣabha (Tỳ Lợi Sa [毘利沙], Ngưu Cung [, cung con trâu], Taurus); (3) Mithuna (Di Thâu Na [彌偷那], Nam Nữ Cung [男女, cung nam nữ], Gemini); (4) Karkaaka (Yết Ca Tra Ca [], Giải Cung [, cung con cua], Cancer); (5) Siha (Sư Tử Cung [獅子, cung sư tử], Leo); (6) Kanyā (Ca Nhã [迦若], Nữ Cung [, cung người nữ], Virgo); (7) Tulā (Suất La [兜羅], Xứng Cung [, cung cái cân], Libra); (8) Vgścika (Tỳ Ly Chi Ca [毘離支迦], Hiết Cung [, cung con bò cạp], Scorpius); (9) Dhanus (Đàn Dật Bà [檀逸婆], Cung Cung [, cung cái cung], Sagittarus); (10) Makara (Ma Già La [摩伽羅], Ma Yết Cung [], Capricornus); (11) Kumbha (Cưu Bàn [鳩槃], Bình Cung [, cung cái bình], Aquarius); và (12) Mīna (Di Na [彌那], Ngư Cung [, cung con cá], Pisces). Theo Đạo Giáo Trung Quốc, quan niệm của 12 cung nầy có khác nhau về nội dung, được thể hiện trên khuôn mặt của con người. (1) Mạng Cung (命宮, Cung Mạng), hay Bạch Dương Tọa (白羊座), là cung chủ yếu về vận mạng, năng lực tinh thần; nằm ở khoảng giữa hai chân mày, thế gian thường gọi là Mi Gian (眉間), Tướng Số gọi là Ấn Đường (印堂), mỗi bộ phận biểu thị cá nhân thiên phú ít nhiều. Nếu như sanh tốt đẹp, thể hiện đầu não ưu tú, tinh thần khoan dung, có phước lộc thọ, là đứa trẻ may mắn của trời đất. Hai hàng lông mày không nên quá tiếp cận với nhau; nếu gần quá thì Cung Mạng bị hẹp đi, rút ngắn lại, chứng tỏ người nầy một đời lao khổ, nhiều âu lo. Nếu người có Cung Mạng tròn đầy như kính, thể hiện người đó thiên tánh mạnh mẽ, trí tuệ thông minh; và nếu có chí học tập, nhất định sẽ thành công. Vả lại nó còn thể hiện người đó thọ mạng lâu dài, có phước phần. Nếu người có Cung Mạng uất ức, nhăn nhó, người đó thường mang hoài bão lớn, bi quan, phần lớn việc làm đều không được như ý và thọ mạng lại ngắn. Đối với người có Ấn Đường khí sắc hồng hào, thể hiện vạn sự đều tốt đẹp, là điềm thể hiện danh lợi song toàn. Nếu như biểu hiện khí sắc u ám, tối tăm, tức là điềm xấu báo hiệu tai họa sắp giáng xuống, cho nên tất cả cử động đều phải cẩn trọng, đề phòng. Nói chung, cát hung, họa phước đều thể hiện vào khí sắc của con người. (2) Tài Bạch Cung (財帛宮, Cung Tài Của) hay Kim Ngưu Tọa (金牛座), chủ yếu về vận tài sản, tiền bạc; gồm toàn thể chóp mũi, tức đầu mũi, Tướng Số gọi là bộ phận Chuẩn Đầu (準頭). Do vì lỗ mũi thuộc Thổ, mà Thổ thì có thể sinh Kim, nên có câu: “Hữu Thổ tư hữu tài (有土斯有財, có đất là có tài).” Vì vậy Cung Tài Của thuộc vào lỗ mũi. Người nào có bộ phận lỗ mũi hoàn mỹ, được gọi là có tài khí, áo quần, thức ăn, nơi ở đều sung túc; chẳng cầu giàu sang mà giàu sang tự có. Từ đó có thuyết cho rằng lỗ mũi thuộc về Sao Tài, khí sắc cần sáng sủa, có thịt nhô lên; lỗ mũi không quá lộ, quá hở, tất đó là nhà phú quý. Nếu như hở lộ quá, tức là nhà bần tiện, nghèo túng. Nếu Cung Tài Của khí sắc sáng sủa, thể hiện tài lợi thuận điều. Nếu như khí sắc tối tăm, u ám, là điềm báo cho biết hao tài hay vận trì trệ. (3) Huynh Đệ Cung (兄弟宮, Cung Anh Em) hay Song Tử Tọa (雙子座), chủ yếu về vận mạng xã giao, anh em thế nào; bao gồm toàn thể lông mi; nếu nói về nghĩa hẹp thì chỉ anh chị em ruột, về nghĩa rộng là thân tộc, hay anh em bốn biển. Cho nên lông mi dài, ư nhã, ngay thẳng, biểu thị tánh tình hiền lương, anh em cùng nhau đối đãi tốt đẹp, xã giao trọn vẹn. Nếu lông mi hoàn mỹ, thể hiện anh em nhiều, thân thích sâu đậm, có nhiều trợ lực. Nếu lông mi mỏng mà ít, tức anh em ít, duyên thân thích bạt bẽo, trợ lực ít. Về lông mi, người nam nên to, người nữ nên nhỏ. Người có lông mi to thì tâm lượng rộng lớn. Người có lông mi nhỏ thì tâm nhỏ hẹp. Người nam mà sanh lông mi nữ, tánh tình như phụ nữ. Người nữ mà sanh lông mi nam, tánh tình như đàn ông. (4) Điền Trạch Cung (田宅宮, Cung Ruộng Nhà) hay Cự Giải Tọa (巨蟹座), chủ yếu về vận mạng gia đình, ái tình; tuy chỉ bộ phận giữa lông mày và con mắt, nhưng theo nghĩa rộng của Cung Ruộng Nhà, nó chỉ cho cả hai mắt. Ruộng là gốc để nuôi dưỡng mạng sống, nhà là nơi để an thân; nên nói theo ngôn từ hiện đại là Cung Gia Đình, thể hiện hoàn cảnh gia đình như thế nào. Nếu bộ phận nầy rộng, có thịt, thể hiện hoàn cảnh gia đình tốt đẹp. Tròng mắt trắng đen rõ ràng, cho biết gia đình tròn vẹn, lại có sản nghiệp. Nếu tròng mắt tối tăm, thể hiện ruộng nhà phá sản, tha hương bất hạnh. Nếu tròng mắt phủ đầy tơ hồng, biểu thị bần cùng đến già. Người có tròng mắt màu đỏ, hình như vòng tròn lửa, hay màu xanh, được gọi là mắt hung dữ, là điềm báo trước không bị giết cũng tự sát. (5) Nam Nữ Cung (男女宮, Cung Nam Nữ) hay Tử Nữ Cung (子女宮, Cung Con Gái), còn gọi là Sư Tử Tọa (獅子座), chủ yếu về vận mạng đối với người khác phái hay đối với người nữ; nằm ngay dưới hai con mắt, còn gọi là bộ phận Lệ Đường (淚堂) hay Ngọa Tàm (臥蠶), thể hiện có con gái hay không, có ít hay nhiều, tốt xấu thế nào. Bộ phận nầy nếu tròn đầy, tức thể hiện có cảm tình thích ứng, con cháu duyên sâu dày, có tiền của dư dật cho đến chết. Nếu quả nơi ấy lõm vào, không có da thịt, thể hiện sự xung khắc với con gái, hay vô duyên. Người có khí sắc nơi Lệ Đường màu xanh, phụ nữ ấy chủ yếu nguy hiểm về sinh sản. Nếu thấy có màu đen hay trắng, chủ yếu người ấy có chuyện bi ai; nếu thấy màu hồng thì sẽ sanh con vui vẻ. (6) Nô Bộc Cung (奴僕宮, Cung Nô Bộc) hay Xử Nữ Cung (處女座), chủ yếu về vận mạng có bộ hạ thế nào, nơi ở ra sao; nằm dưới cằm má, tức ở bộ phận xương quai hàm, thể hiện năng lực thống lãnh và chế ngự, bộ hạ có ít nhiều thế nào. Nếu bộ phận nầy to lớn, biểu hiện khí hồn giàu có, thống lãnh, được bộ hạ nhiều. Còn nếu quai hàm nhọn và nhỏ, tức không có duyên với bộ hạ cấp dưới và thiếu tài năng lãnh đạo. Về khí sắc của bộ phận nầy, nếu có màu hồng vàng, sáng tỏ, chủ yếu có nhiều nô bộc, người hầu kẻ hạ tấp nập. Nếu là màu xanh, đen, tối tăm, cho biết tôi tớ chạy mất và có bệnh tật, tai ách. (7) Phu Thê Cung (夫妻宮, Cung Vợ Chồng) còn gọi là Thê Thiếp Cung (妻妾宮), hay Thiên Bình Tọa (天秤座), chủ yếu về vận mạng phối ngẫu, kết hôn; nằm nơi đuôi lông mày của hai con mắt, thường được gọi là đuôi cá; do vì đuôi cá ấy vươn đến bộ vị vủa tóc mai, nên có tên là Gian Môn (奸門). Thê Thiếp Cung chỉ về bộ phận Gian Môn nầy. Nó thể hiện việc vợ chồng, hôn nhân có mỹ mãn hay không. Nếu sắc màu sáng sủa, đầy đặn, cho biết việc hôn nhân mỹ mãn. Nếu phần đuôi cá sạm đen, hay có hoa văn chữ thập, tức cho biết vợ chồng vô duyên. Người có nhiều hoa văn nơi đuôi cá, tức tình dục rất phong phú, sung mãn. (8) Tật Ách Cung (疾厄宮, Cung Tật Ách), hay Thiên Hiết Tọa (天蠍座), chủ yếu về tai họa, tật bệnh thế nào; nằm ngay trên sống mũi, giữa hai con mắt; còn gọi là sơn căn (山根), thể hiện người ấy có sức khỏe thế nào và tai nạn ra sao. Nếu bộ phận sống mũi dài, nhô đầy, không bị khuyết lõm, cho biết suốt đời bình an, thân tâm sức khỏe. Còn nếu gãy đứt, thấp lõm, e rằng sẽ có nhiều tật bệnh và tai ách. (9) Thiên Di Cung (遷移宮, Cung Thiên Di), hay Nhân Mã Tọa (人馬座), chủ yếu về vận mạng du lịch, di chuyển; nằm ở hai góc lông mày phía trên cho đến bộ phận mái tóc, thế gian thường gọi là bộ vị của Huyệt Thái Dương (太陽穴). Sách Tướng Số gọi nó là Thiên Thương (天倉), Dịch Mã (驛馬). Người xưa căn cứ vào đây để đoán về nơi ăn chốn ở, di chuyển, chức vị biến động cũng như du lịch thế nào. Nếu bộ phận nầy có sắc màu sáng, tức biến động có lợi, mưu sự thuận thành. Nếu sắc màu xấu, chủ yếu hung tai, hoặc có lo âu mất mác chức vị; nếu là màu xanh thì cho biết sẽ gặp trộm cắp trong nhà. (10) Quan Lộc Cung (官祿宮, Cung Quan Lộc), hay Sơn Dương Tọa (山羊座), chủ yếu về công danh, sự nghiệp; nằm ngay chính giữa trán, còn gọi là bộ vị Trung Chánh (中正). Bộ phận nầy thể hiện năng lực trí thức trời phú có ít nhiều thế nào, liên quan đến công danh, địa vị của cá nhân. Nếu cung nầy phẳng, đầy, sáng tỏ, cho biết người ấy có ý chí bất khuất, công danh thuận lợi, địa vị xã hội cao. (11) Phước Đức Cung (福德宮, Cung Phước Đức), hay Thủy Bình Tọa (水瓶座), chủ yếu về vận mạng cơ hội, vật chất; nằm hai bên trán, thể hiện cơ hội, tài vận, lợi hại, được mất thế nào. Về phương pháp xem Cung Phước Đức nầy, chủ yếu lấy bộ phận Thiên Thương, cọng thêm phần Địa Khố (地庫) dưới cằm. Nếu tương đối tốt đẹp, tướng đẹp, thể hiện vận buôn bán rất hanh thông, có phước đức, ngồi không cũng được hưởng giàu sang. (12) Tướng Mạo Cung (相貌宮, Cung Tướng Mạo), hay Song Ngư Tọa (雙魚座), chủ yếu về một đời người, phần cuối đời thế nào; được gọi là Ngũ Nhạc Tam Đình (五岳三停). Ngũ Nhạc chỉ cho má bên trái, là Đông Nhạc Thái Sơn (東岳泰山), má bên phải là Tây Nhạc Hoa Sơn (西岳華山), trán phía trên là Nam Nhạc Hành Sơn (南岳衡山), trên mũi là Trung Nhạc Tung Sơn (中岳嵩山), phần dưới xương quai hàm là Bắc Nhạc Hằng Sơn (北岳恆山). Tam Đình gồm Thượng Đình, Trung Đình và Hạ Đình. Nếu Ngũ Nhạc Tam Đình tương ứng, cân đối với nhau, chủ yếu thể hiện giàu sang, sống lâu. Nếu ngược lại tắc khốn khổ, vạn sự đều không thành. Ngoài ra Thập Nhị Cung còn là thuật ngữ được sử dụng trong Mật Giáo, nằm ở vị trí Kim Cang Bộ Viện (金剛部院), ngoài Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅), chia làm 4 phương. Đại Sớ cho rằng 12 cung nầy là quyến thuộc của Nguyệt Thiên (月天), phân phối phương vị có khác với Thiên Văn Học hiện đại, nhưng đại thể giống nhau. Tại phương Đông có Phu Phụ Cung (夫婦宮, hay Song Nữ Cung [雙女宮]), Dương Cung (羊宮, hay Bạch Dương Cung [白羊宮]), Ngưu Cung (牛宮, hay Kim Ngưu Cung [金牛宮]). Tại phương Tây có Bình Cung (秤宮, hay Thiên Bình Cung [天秤宮], Bình Lượng Cung [秤量宮]), Hiết Cung (蝎宮, hay Thiên Hiết Cung [天蝎宮], Hiết Trùng Cung [蝎蟲宮]), Cung Cung (弓宮, hay Nhân Mã Cung [人馬宮]). Tại phương Nam có Bình Cung (瓶宮, hay Bảo Bình Cung [寶瓶宮]), Nhị Ngư Cung (二魚宮, hay Song Ngư Cung [雙魚宮], Hiền Bình Cung [賢瓶宮]), Mật Ngưu Cung (密牛宮, hay Ma Hiết Cung [摩蝎宮]). Tại phương Bắc có Bàng Giải Cung (螃蟹宮, hay Cự Giải Cung [巨蟹宮]), Sư Tử Cung (獅子宮), Song Nữ Cung (雙女宮, hay Thất Nữ Cung [室女宮], Tiểu Nữ Cung [小女宮]).
  5. Cửu Diệu (s: Navagrahā, 九曜): 9 loại thiên thể chiếu sáng rất quan trọng trong hiện tượng thiên văn, còn gọi là Cửu Chấp (九執), tùy theo ngày giờ mà không xa rời nhau, có nghĩa nắm chặt nhau (chấp trì). Nghi quỹ trọng yếu của Cửu Diệu được thuyết trong Tú Diệu Kinh (宿, 2 quyển, Bất Không [s: Amoghavajra, 不空, 705-774] dịch, Taishō 21, 1299), Thất Diệu Nhương Tai Quyết (曜攘災決, Đường Kim Câu Tra [唐金倶吒] soạn, Taishō 21, 1308), Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp (星辰別行法, Nhất Hành [一行] soạn, Taishō 21, 1309), Phạm Thiên Hỏa La Cửu Diệu (梵天火羅九曜, Nhất Hành [一行] soạn, Taishō 21, 1311). Về đồ hình của Cửu Diệu có Cửu Diệu Tôn Tượng (九曜尊像), Cửu Diệu Bí Lịch (九曜秘曆), v.v., phần lớn có các yếu tố thiên văn của Trung Quốc. Căn cứ vào lịch Ấn Độ bằng tiếng Phạn, Cửu Diệu được phân thành (1) Nhật Diệu (s: Āditya, Sūrya, 日曜, Thái Dương [太陽], Nhật Tinh [日精、日星], Nhật Đại Diệu [日大曜], âm dịch là Tô Lợi Da (蘇利耶); hình tượng bàn tay phải xòe ra cầm nhật luân [bánh xe mặt trời], tai trái kê lên đầu gối, mang thiên y và cỡi trên mình 3 con bạch mã [hay 5 con ngựa, trong Phạm Thiên Hỏa La Cửu Diệu có thể nhầm sao nầy với Nguyệt Diệu]); (2) Nguyệt Diệu (s: Soma, Candra, 月曜, Nguyệt Thiên Diệu [月天曜], Nguyệt Tinh [月精、月星], Mộ Thái Âm [暮太陰], Thái Âm [], âm dịch là Chiến Nại La (戰捺羅), Tô Ma (蘇摩); hình tượng bàn tay phải xòe ra cầm hình mặt trăng có con thỏ nằm trên, tay trái đưa lên ngang ngực và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; hoặc hình tượng trên đỉnh đầu có con chim bồ câu, mang y Yết Ma, hai tay bỏ trong tay áo và cầm nguyệt luân [vòng tròn mặt trăng], cỡi lên trên 5 cánh chim bồ câu); (3) Hỏa Diệu (s: Agāraka, 火曜, Huỳnh Hoặc Tinh [惑星, Sao Hỏa], Hỏa Tinh [火精、火星], Hỏa Đại Diệu [火大曜], Phạt Tinh [罰星], âm dịch là Áng Nga Ra Ca (盎哦囉迦); hình tượng tay phải đặt trên bắp đùi, tay trái cầm cái giáo dài mũi nhọn, chân phải hơi nhếch lên một chút, ngồi với tư thế hai bàn chân giao nhau; tuy nhiên trong đồ hình Bắc Đẩu Mạn Trà La [北斗曼茶羅] thân hình vị nầy có màu đỏ, tóc rực lửa dựng ngược, mang áo và mũ trời, chung quanh lửa cháy, thân đứng với 4 tay); (4) Thủy Diệu (s: Budha, 水曜, Thần Tinh [], Thủy Tinh [水精、水星], Thần Tinh [辰星], Trích Tinh [滴星], Thủy Đại Diệu [水大曜], âm dịch là Bộ Đà (部陀); hình tượng chấp tay, ngồi xếp bằng hai bàn chân giao nhau; ngoài ra còn có hình tượng tay phải cầm bình, tay trái cầm xâu chuổi và ngồi bán già trên tòa hoa sen); (5) Mộc Diệu (s: Bhaspati, 木曜, Tuế Tinh [歲星], Nhiếp Đề [攝提], Đại Chủ [大主], Mộc Đại Diệu [木大曜], Mộc Tinh [木精], âm dịch là Vật Lí Ha Bà Bả Để (勿哩訶娑跛底); hình tượng ngón tay áp út và ngón giữa của bàn tay phải cong lên, ngón tay cái ấn xuống trên hai ngón kia, tai trái để lên bắp đùi và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; ngoài ra còn có hình tượng tay trái cầm cây gậy trên có hình bán nguyệt, hay hình ông lão đứng, đội mũ đầu heo, tay trái cầm cây gậy); (6) Kim Diệu (s: Śukra, 金曜, Thái Bạch Tinh [太白星], Trường Canh [長庚], Na Hiệt [], Kim Tinh [金星、金精], Kim Đại Diệu [金大曜], âm dịch là Tuất Yết La (戌羯羅); hình tượng mang thiên y, tay phải để ngang ngực, tay trái đưa lên với 4 ngón tay bẻ gập lại và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; ngoài ra còn có hình tượng hai tay cầm bình và xâu chuỗi; hay hình người nữ đội con gà trên đầu và gãy đàn Tỳ Bà [琵琶]); (7) Thổ Diệu (s: Śanaiścara, 土曜, Trấn Tinh [鎭星], Thổ Tinh [土星、土精], Thổ Đại Diệu [土大曜], âm dịch là Dư Nãi Dĩ Thất Chiết Ra (賖乃以室折囉); hình tượng ông lão mình trần đứng, mang quần da nai, tay phải cầm cây gậy tiên; hay hình Bồ Tát tay cầm bình; hoặc hình ông lão cỡi trâu, tay trái cầm tích trượng, có 2 đồng tử cầm giáo đứng hầu hai bên); (8) La Hầu (s: Rāhu, 羅睺, Hoàng Phan Tinh [], Thực Thần [], Thái Dương Thủ [太陽首]; hình tượng ẩn trong mây với 2 bàn tay hai bên khuôn mặt giận dữ; bên cạnh đó còn có hình tượng giận dữ với 3 mặt và tóc rực lửa, trên mỗi đỉnh đầu có đầu rắn và từ ngực trở xuống ẩn trong mây) và (9) Kế Đô (s: Ketu, 計都, Tuệ Tinh [], Báo Vĩ Tinh [豹尾星], Kỳ Tinh [], Thực Thần Vĩ [神尾], Thái Âm Thủ [太陰首], Nguyệt Bộc Lực []; hình tượng nữa thân phải lộ ra khỏi mây, tay phải để ngang ngực, tay trái đưa lên cao; hay hình có khuôn mặt giận dữ, khỏa thể một nửa ẩn trong đám mây đen; hoặc hình tướng giận dữ có 3 mặt, trên mỗi mặt có 3 con rắn, từ ngực trở xuống ẩn trong mây. Trong đồ hình Bắc Đẩu Mạn Trà La [北斗曼茶羅] thân hình vị nầy có màu đỏ, 3 mặt và 4 tay, tóc dựng ngược, mang áo và mũ trời, chân trái duỗi ra và cỡi lên con rồng. Ngoài ra còn có hình tượng tay phải ẩn trong đầu rồng, cầm lỗ tai con thỏ, tay trái cầm cương rồng và tóc người). Trong Tân Đường Thư Lịch Chí (新唐書曆志) quyển 18 có ghi rằng vào năm thứ 6 (718) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông, Thái Sử Giám Cù Đàm Tất Đạt (太史監瞿曇悉達) vâng chiếu phiên dịch Lịch Cửu Diệu; nó cũng tương tự với loại lịch Thái Dương bằng tiếng Phạn. Nếu phối hợp phương vị, Nhật Diệu thuộc về phương Sửu Dần, Nguyệt Diệu thuộc phương Tuất Hợi, Hỏa Diệu thuộc phương Nam, Thủy Diệu là phương Bắc, Mộc Diệu ở phương Đông, Kim Diệu ở phương Tây, Thổ Diệu ở trung ương, La Hầu ở phương Thìn Tỵ (Đông Bắc), Kế Đô thuộc phương Mùi Thân (Tây Nam). Hơn nữa, theo Thuyết Bản Địa của Nhật Bản, Nhật Diệu là Quan Âm (觀音, hay Hư Không Tạng [虛空藏]), Nguyệt Diệu là Thế Chí (, hay Thiên Thủ Quan Âm [千手觀音]), Hỏa Diệu là Bảo Sanh Phật (寶生佛, hay A Rô Ca Quan Âm [迦觀音]), Thủy Diệu là Vi Diệu Trang Nghiêm Thân Phật (微妙莊嚴身佛, hay Thủy Diện Quan Âm [水面觀音]), Mộc Diệu là Dược Sư Phật (藥師佛, hay Mã Đầu Quan Âm [馬頭觀音]), Kim Diệu là A Di Đà Phật (阿彌陀佛, hay Bất Không Quyên Sách [不空羂索]), Thổ Diệu là Tỳ Lô Giá Na Phật (毘盧遮那佛, hay Thập Nhất Diện Quan Âm [十一面觀音]), La Hầu là Tỳ Bà Thi Phật (毘婆尸佛), Kế Đô là Bất Không Quyên Sách (不空羂索). Người xưa thường phối hợp Cửu Diệu nầy với tuổi tác của con người để phán đoán tốt xấu.
  6. Tam Tai (三災): ba loại tai ách, gồm tiểu tam tai và đại tam tai, còn gọi là Tam Tai Kiếp (三災刼). Thế giới nương theo 4 thời kỳ: Thành Kiếp (成刼, thời kỳ thành lập), Trụ Kiếp (住刼, thời kỳ tồn tục), Hoại Kiếp (壞刼, thời kỳ hoại diệt) và Không Kiếp (空刼, thời kỳ trống không) mà tuần hoàn vô cùng tận, không ngừng nghỉ. Trong đó, chúng hữu tình xuất hiện ở thời kỳ nhất định của Trụ Kiếp; đến thời kỳ cuối cùng của Hoại Kiếp thì thế giới hoàn toàn bị hoại diệt. Trong hai thời kỳ Trụ và Hoại, có 3 loại tai ách xảy ra. Theo thuyết của Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 12 có (1) Tiểu Tam Tai (三災): Trụ Kiếp chia thành 20 thời kỳ, tuổi thọ của loài hữu tình từ 80.000 đến 10 tuổi, tăng giảm lui tới khoảng 20 lần, phát sanh 3 loại tai ách như nạn đao binh chém giết lẫn nhau, tai họa dịch bệnh, nạn đói kém, v.v. (2) Đại Tam Tai (三災): Hoại Kiếp chia thành 20 thời kỳ, nơi kiếp cuối cùng thế giới bắt đầu hoại diệt và dẫn đến thiên tai như về lửa (phá hoại Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Nhất), nước (cho đến Cõi Thiền Thứ Hai) và gió (hoại diệt cho đến Cõi Thiền Thứ Ba). Như vậy 3 tai ách về lửa, nước và gió được gọi là Kiếp Hỏa (), Kiếp Thủy () và Kiếp Phong (). Sự phát sanh Tam Tai nầy theo thứ tự nhất định, nghĩa là trước hết tai ách về lửa hoại diệt 10 lần, sau đó đến tai ách về nước hoại diệt 1 lần, cứ tuần hoàn như vậy trải qua 7 lần, rồi lại bị tai ách về lửa hoại diệt 7 lần nữa và cuối cùng là sự hoại diệt của tai ách về gió. Theo Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 1 cho biết (1) Tiểu Tam Tai có tai ách đói kém (tuổi thọ con người từ 84.000 tuổi, mỗi 100 năm giảm xuống 1 tuổi, cho đến khi còn 30 tuổi thì nảy sinh hạn hán lớn không có mưa, cỏ cây không mọc được, trên đời vô số người chết vì đói khát); tai ách dịch bệnh (tuổi thọ con người giảm xuống còn 20, các bệnh hoạn sinh khởi, trên đời vô số người chết vì dịch bệnh); và tai ách đao binh (khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10, mọi người bắt đầu đấu tranh lẫn nhau, tay cầm cỏ cây cũng thành đao gậy, tàn sát nhau và vô số người chết vì đao binh). (2) Đại Tam Tai có tai ách về lửa (vào thời Hoại Kiếp, đại địa và núi Tu Di dần dần băng hoại, nước của 4 biển lớn cũng từ từ cạn đi, Cõi Dục và Cõi Thiền Thứ Nhất đều bị cháy rụi, chẳng còn chút nào); tai ách về nước (từ Cõi Thiền Thứ Nhất trở xuống trải qua 7 lần bị hỏa tai, thế giới lại hình thành, đến thời Hoại Kiếp có trận mưa lớn, giọt mưa to như trục xe, nước từ trong lòng đất phun ra ồ ạt, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Hai nước tràn đầy, tất cả đều bị hoại diệt); và tai ách về gió (từ Cõi Thiền Thứ Hai trở xuống trải qua 7 lần bị tai ách về nước, rồi thêm 7 lần bị tai ách về lửa, hoàn toàn tiêu diệt, cho đến khi thế giới được hình thành lại, đến thời Hoại Kiếp, có con gió mạnh dấy lên, và do nghiệp của chúng sanh đã hết, nên nơi nơi đều có gió, từ Cõi Dục cho đến Cõi Thiền Thứ Ba đều bị thổi bay tung, quét sạch không còn gì cả). Như trong bài văn Nhiếp Sơn Thê Hà Tự Bi (攝山棲霞寺碑) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, 508-554) nhà Nam Triều có câu: “Phong lai lộ hiết, nhật độ hà khinh, Tam Tai bất hủy, đắc nhất nhi trinh (風來露歇日度霞輕三災不毀得一而貞, gió về sương rụng, trời tỏ mây tan, Tam Tai chẳng hết, được một còn nguyên).” Hay như trong bài thơ Bách Lâm Viện (柏林院) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống cũng có câu: “Hồ lai Hồ hiện kiếp hôi thâm, phong cổ Tam Tai hải ấn trầm (胡來胡現劫灰深風鼓三災海印沉, Rợ đi Rợ hiện kiếp sâu nặng, gió động Tam Tai biển lắng trầm).
  7. Nhị Thập Bát Tú (s: aṣṭāviśati nakatrāi, 二十八宿): 28 ngôi sao vận hành trong 1 tháng, thuyết 28 ngôi sao nầy vốn xuất phát từ Ấn Độ. Hơn nữa, trong kinh điển Phật Giáo cũng có đề cập đến như Ma Đăng Già Kinh (摩登伽經) quyển thượng, Đại Tập Kinh (大集經) quyển 41, Tú Diệu Kinh (宿曜經), v.v. Kinh Ma Đăng Già (s: Śārdūlakarāvadāna, 摩登伽經, Taishō No. 1300, Hán dịch khoảng thế kỷ thứ 3) liệt kê 28 ngôi sao như sau (theo thứ tự tên tiếng Phạn, tên Hán dịch, số ngôi sao, hình tướng): (1) Kttikā: Ngang (), 6, đao cắt. (2) Rohiī: Tất (), 5, cỗ xe. (3) Mgaśiras: Tuy (), 3, đầu nai. (4) Ārdrā: Sâm (), 1, hạt châu trên đầu. (5) Punarvasu: Tỉnh (), 2, chân người. (6) Puya: Quỷ (), 3, cái bình. (7) Āśleā: Liễu (), 5, lưỡi câu cong hay đầu rắn. (8) Maghā: Tinh (), 6, khúc cong con sông. (9) Pūrva Phalgunī: Trương (), 2, chân người. (10) Uttara Phalgunī: Dực (), 2, chân người. (11) Hasta: Chẩn (), 5, bàn tay. (12) Citrā: Giác (), 1, hạt châu trên đầu. (13) Svāti: Cang (), 1, hạt châu trên đầu. (14) Viśākhā: Để (), 4, sừng trâu. (15) Anurādhā: Phòng (), 4, vòng châu. (16) Jyeṣṭ: Tâm (), 3, lúa mạch. (17) Mūlā: Vĩ (), 9, con bò cạp. (18) Āā: Ky (), 4, bước chân trâu. (19) Āā: Đẩu (), 4, chân voi. (20) Abhijit: Ngưu (), 3, đầu bò. (21) Śravaa: Nữ (), 3, lúa mạch. (22) Dhaniṣṭ: Hư (), 4, chim bay. (23) Śatabhiā: Nguy (), 1, hạt châu trên đầu. (24) Bhādrapadā: Thất (), 2, chân người. (25) Bhādrapadā: Bích (), 2, chân người. (26) Revati: Khuê (), 1, hạt châu trên đầu. (27) Aśvinī: Lâu (), 2, đầu ngựa. (28) Bharaī: Vị (), 3, cái đỉnh. Tuy nhiên, 28 ngôi sao của Ấn Độ và Trung Quốc không có mối quan hệ về mặt ngôn ngữ, mỗi bên tự phát triển theo cách của mình. Về phương diện chiêm tinh và lịch pháp, 12 cung đóng vai trò quan trọng nhất. Sau khi Mật Giáo phát triển, tín đồ Phật Giáo đã kết hợp 12 cung và 28 ngôi sao lại với nhau. Như trong Tú Diệu Kinh có đề cập sự cấu thành pháp chiêm tinh của Mật Giáo, và tên tiếng Phạn của chúng phần lớn được dịch trực tiếp từ Thiên Văn Học Tây phương, hay có ảnh hưởng du nhập trực tiếp từ Thiên Văn Học ấy. Tuy nhiên, theo quan niệm của Đạo Giáo Trung Hoa, Nhị Thập Bát Tú có tên gọi hơi khác như 7 ngôi sao Thương Long (, hay Thanh Long []) ở phương Đông là Giác (), Cang (), Để (), Phòng (), Tâm (), Vĩ () và Ky (); 7 ngôi sao Huyền Võ (玄武) ở phương Bắc là Đấu (), Ngưu (), Nữ (), Hư (), Nguy (), Thất () và Bích (); 7 ngôi sao Bạch Hổ (白虎) ở phương Tây là Khuê (), Lâu (), Vị (), Ngang (), Tất (), Tuy () và Sâm (); 7 ngôi sao Châu Tước (朱雀) ở phương Nam là Tỉnh (), Quỷ (), Liễu (), Tinh (), Trương (), Dực () và Chẩn ().